Lm. GB. Nguyễn Đăng Trực, OP.
Năm
con đường (ngũ đạo) của thánh Toma được cấu trúc theo cùng một kiểu, rõ
rệt nhất nơi 3 con đường đầu tiên. Con đường nào cũng khởi đi từ một
kinh nghiệm về những thực tại khả giác: Các sự vật trong vũ trụ có sự
biến dịch (đ.1); chúng tác động lên nhau, tạo nên một chuỗi nguyên nhân
lệ thuộc (đ.2); Chúng có sinh có diệt, nghĩa là có khởi đầu và kết thúc
(đ.3). Chúng có sự hoàn hảo hơn kém, nghĩa là có những cấp độ thiện hảo
khác nhau (đ.4); Nhìn tổng thể, người ta thấy chúng có trật tự và hướng
đích ngay cả nơi những vật vô tri (đ.5).
Sau
đó Ngài áp dụng nguyên lý nhân quả vào từng sự kiện đã quan sát và thấy
rằng bất cứ vật gì chuyển động, đều có nguyên nhân chuyển động (đ.1).
Không có sự vật nào trong vũ trụ khả giác là nguyên nhân tác thành cho
chính mình (đ.2). Chúng có sinh có diệt nhưng không sự vật nào tự bắt
đầu hiện hữu (đ.3). Sự thiện hảo hơn kém nơi chúng luôn qui chiếu về hữu
thể tối hảo là cùng đích và nguồn mạch của chúng (đ.4). Ngay các sự vật
vô tri cũng hành động theo trật tự và có hướng đích tính như thể có sự
hướng dẫn của hữu thể toàn tri hay toàn thức (đ.5).
Biến
dịch là chuyển từ cách hiện hữu này sang cách hiện hữu khác. Nói biến
dịch là nói cái gì biến dịch, nghĩa là phải có một chủ thể. Theo đó,
sáng tạo không phải là biến dịch đúng nghĩa vì trước đó không có gì hết.
Nghĩa là không có chủ thể. Sáng tạo từ hư vô. Trong lãnh vực khả
nghiệm, có biến dịch về bản thể và biến dịch về tùy thể. Biến dịch bản
thể là chuyển đổi từ bản tính này sang bản tính khác như thức ăn trở
thành máu thịt. Biến đổi tùy thể là biến đổi từ tùy thể của một chủ thể
chuyển sang tùy thể khác cũng nằm trong chủ thể đó. Như biến đổi lượng
tính: ốm thành mập hay phẩm tính: đầm độn thành thông minh… Trong thế
giới khả giác ta thấy một vật đang chuyển dịch vì nó bị tác động bởi một
vật khác và vật này có thể cũng đang chuyển động và do đó cũng bị tác
động bởi một vật khác. Do đó không động cơ nào là không bị tác động bởi
động cơ khác vì tất cả là động cơ trung gian, vừa tác động vừa bị tác
động, nghĩa là vừa nhận lại vừa chuyển vận sự vận động sang vật khác,
nên nhất thiết phải công nhận một động cơ bất bị động (unmoved mover)
thì mới giải thích được chuyển động trong vũ trụ này.
Đường
thứ ba dẫn đến khẳng định sự hiện hữu của Thượng Đế phát sinh từ nhận
thức về tính bất tất của các sự vật trong vũ trụ. Một cách nôm na, bất
tất nghĩa là có thể ra khác (can be other). Tất yếu, không thể khác được
(can not be otherwise). Một vật bất tất là một vật có cũng được và
không cũng được, một vật có sinh có diệt, có sinh tức là trước chưa hiện
hữu, nếu có hiện hữu thì không phải do mình mà cần phải có nguyên nhân
cho hữu thể mình. Thường người ta ít bén nhạy về tính bất tất (mỏng dòn,
giới hạn) nơi các sự vật, chỉ khi người ta phải đối diện với cái chết
của một người thân hay sự sụp đổ của một cơ ngơi, người ta mới ý thức rõ
ràng về tính bất tất của các sự vật quanh ta.
Sau
đó Ngài áp dụng nguyên lý nhân quả vào từng sự kiện đã quan sát và thấy
rằng bất cứ vật gì chuyển động, đều có nguyên nhân chuyển động (đ.1).
Không có sự vật nào trong vũ trụ khả giác là nguyên nhân tác thành cho
chính mình (đ.2). Chúng có sinh có diệt nhưng không sự vật nào tự bắt
đầu hiện hữu (đ.3). Sự thiện hảo hơn kém nơi chúng luôn qui chiếu về hữu
thể tối hảo là cùng đích và nguồn mạch của chúng (đ.4). Ngay các sự vật
vô tri cũng hành động theo trật tự và có hướng đích tính như thể có sự
hướng dẫn của hữu thể toàn tri hay toàn thức (đ.5).
Qua
đó, ngũ đão muốn nói lên những giới hạn nơi vạn vật: chúng chịu sự thay
đổi khi biến dịch và tác động lên nhau theo tầm mức giới hạn của mình
(đ.1+2). Chúng không thể tự sinh, phải nhờ một hữu thể khác mới hiện hữu
được (đ.3). Chúng chỉ có một số thiện hảo nào đó thôi, nghĩa là còn bất
toàn (đ.4). Mặc dù trật tự trong vũ trụ nói lên một sự thiện hảo nào
đó, nhưng cũng nói lên sự liên kết lệ thuộc nhau trong hành động cũng
như nơi hữu thể của chúng (đ.5). Nói cách khác, chúng hữu hạn cả ở thể
năng động cũng như trong trạng thái tĩnh tại.
Với
tính chất bất toàn, hữu hạn đó, chúng không thể giải thích thỏa mãn cái
lý hữu của mình, nên nhất thiết phải nại đến một động cơ bất bị động
(đ.1). Một nguyên nhân tác thành đệ nhất (đ.2). Một hữu thể tất hữu tự
tại (đ.3). Một hữu thể hoàn hảo tuyệt đối, là nguồn mạch cho sự thiện
hảo tương đối (đ.4). Một Đấng toàn tri, toàn thức vì trật tự và hướng
đích tính là hoa trái của trí tuệ (đ.5).
Một
hữu thể như thế, phải ở một bình diện hoàn toàn khác biệt và một bản
chất khác hẳn với những sự vật trong thế giới khả nghiệm này.
Đàng
khác, luận chứng trong Ngũ đạo được triển khai theo những vòng tròn
đồng tâm nên các chứng cứ càng chặt chẽ hơn. Nổi bật nhất là thánh Toma
đã đặt vấn đề trên nền tảng siêu hình học nghĩa là không bỏ mất nền tảng
hiện hữu như nơi Aristote. Ngài bỏ xa bình diện bản thể là bình diện
của yếu tính để vươn sang bình diện hữu thể là bình diện của hiện hữu,
vì hữu thể học của thánh Toma không phải là hữu thể học về yếu tính như
của Aristote, không thể dẫn tới hiện hữu của Thượng Đế nhưng chỉ dẫn tới
một khái niệm về Thượng Đế. Không lạ gì trong chương 13 phần I, tổng
luận thần học, Ngài đã dựa vào mạc khải danh Thiên Chúa: “Ta là Đấng
Hiện Hữu” (Xh 3,14) để khẳng định “Đấng Hiện Hữu” là danh xưng thích hợp
nhất của Thiên Chúa.
I. ĐƯỜNG THỨ NHẤT DỰA TRÊN BIẾN DỊCH
Biến
dịch là chuyển từ cách hiện hữu này sang cách hiện hữu khác. Nói biến
dịch là nói cái gì biến dịch, nghĩa là phải có một chủ thể. Theo đó,
sáng tạo không phải là biến dịch đúng nghĩa vì trước đó không có gì hết.
Nghĩa là không có chủ thể. Sáng tạo từ hư vô. Trong lãnh vực khả
nghiệm, có biến dịch về bản thể và biến dịch về tùy thể. Biến dịch bản
thể là chuyển đổi từ bản tính này sang bản tính khác như thức ăn trở
thành máu thịt. Biến đổi tùy thể là biến đổi từ tùy thể của một chủ thể
chuyển sang tùy thể khác cũng nằm trong chủ thể đó. Như biến đổi lượng
tính: ốm thành mập hay phẩm tính: đầm độn thành thông minh… Trong thế
giới khả giác ta thấy một vật đang chuyển dịch vì nó bị tác động bởi một
vật khác và vật này có thể cũng đang chuyển động và do đó cũng bị tác
động bởi một vật khác. Do đó không động cơ nào là không bị tác động bởi
động cơ khác vì tất cả là động cơ trung gian, vừa tác động vừa bị tác
động, nghĩa là vừa nhận lại vừa chuyển vận sự vận động sang vật khác,
nên nhất thiết phải công nhận một động cơ bất bị động (unmoved mover)
thì mới giải thích được chuyển động trong vũ trụ này.
Con
đường thứ nhất của thánh Toma được xây dựng trên hai nguyên tắt: thứ
nhất, bất cứ vật gì biến động đều có nguyên nhân biến động. Nguyên tắt
này đã được kinh nghiệm chứng thực. Nguyên tắc thức hai: không thể lùi
lại về quá khứ đến vô tận trong chuỗi những biến động lệ thuộc nhau,
nghĩa là có lùi lại đến bất tận cũng vô ích, vì trong một chuỗi bất tận
các động cơ lệ thuộc thì tất cả mọi yếu tố đều là trung gian, vừa tác
động vừa bị tác động, nghĩa là vừa nhận lại vừa chuyển sự vận động. Do
đó mỗi yếu tố riêng lẻ cũng như toàn bộ các yếu tố trong chuỗi sự vật
thuộc thế giới khả nghiệm không thể giải thích được sự chuyển dịch đang
diễn ra trong vũ trụ khả giác này.
Bản
văn của thánh Toma có tầm quan trọng lịch sử đặc biệt nên chúng ta cần
đọc nó để có những nền tảng nhận xét chắc chắn sau này.
Bản văn được trích dịch trong Tổng luận thần học phần I chương 2 mục 3:
“Đường
sáng tỏ hơn hết dựa vào chuyển dịch: ai cũng thấy rõ ràng có chuyển
dịch trong vũ trụ. Mọi chuyển dịch đều do vật khác tác động. Để một vật
chuyển dịch, vật đó phải có tiềm năng, còn vật gây chuyển dịch ở trong
thế hiện thể. Gây chuyển dịch là đưa một vật từ tiềm thể (potentiality)
sang hiện thể (actuality). Nhưng không thể làm như vậy nếu không nhờ đến
một vật đang ở trong hiện thể. Ví dụ, lửa đốt gỗ cháy, lửa trong hiện
thể nóng cháy, gỗ có tiềm năng nóng cháy nên gỗ nhờ lửa để đạt tới nóng
cháy trong hiện thể.
Nhưng
một vật không thể vừa trong hiện thể vừa trong tiềm thể một trật, có
chăng chỉ ở nhiều phương diện khác nhau. Thí dụ vật đang cháy (hiện thể)
thì không thể cũng có thể cháy (tiềm thể) nhưng cũng cùng một vật đang
cháy đó vẫn có thể nguội (tiềm thể nguội). Như vậy cũng một vật theo
cùng một phương diện không thể vừa gây chuyển dịch vừa bị chuyển dịch,
nghĩa là không có gì tự chuyển dịch. Do đó mọi chuyển dịch đều do vật
khác tác động và chính vật khác đó cũng bị chuyển dịch. Và ta không thể
lý luận mãi đới vô cùng. Lý do là nếu kéo dài lý luận mãi, sẽ không có
đệ nhất động cơ rồi cũng không có bất kỳ vật tác động nào khác bởi lẽ
mọi tác động kế tiếp đều nhờ vào đệ nhất động cơ như cây gậy chỉ chuyển
động nhờ bàn tay.
Bởi đấy cần có một đệ nhất động cơ, không bị vật khác tác động mà mọi người gọi là Thượng Đế”.
Thánh
Toma dùng quá nhiều danh từ chuyên môn của triết học Kinh viện, cho
nên, nếu không quen với tư tưởng của ngài, người ta dễ hiểu lầm hoặc
hiểu nông cạn đi.
Vậy
quan niệm cần phải được chúng ta hiểu đúng là quan niệm chuyển dịch
(motion). Đoạn văn nhấn mạnh “gây chuyển dịch là đưa một vật từ tiềm thể
sang hiện thể” Khẳng định sự chuyển biến từ năng thể sang hiện thể nhờ
một động cơ ở hiện thể.
Như
đã biết, đối với Aristote, muôn vật trong vũ trụ đều chịu sự chi phối
của tiến trình đổi thay, mà hình thức đổi thay căn bản nhất là sự biến
đổi từ tiềm thể sang hiện thể. Aristote đã sử dụng sự tương phản giữa
tiềm thể và hiện thể để giải thích tiến trình đổi thay này. Tuy nhiên
mối quan tâm của ông là biện minh cho tính ưu thế của hiện thể đối với
tiềm thể. Không thể có sự biến dịch từ tiềm thể sang hiện thể nếu trước
đó không có động cơ đang ở hiện thể. Theo Aristote, toàn bộ thiên nhiên
hết sức nỗ lực đạt tới mọi hiện thể cá biệt của mình: trở thành một cây
hoa hoàn hảo, một con người trưởng thành, v.v… Tất cả những nỗ lực này
tạo nên một tiến trình qui mô rộng lớn đến nỗi có thể nói mọi thực thể
đều ở trong tiến trình đổi thay chuyển từ tiềm thể hướng tới sự thành
toàn cao nhất. Để giải thích sự biến dịch có tính bao quát và toàn diện
này, Aristote hướng về một động cơ bất bị động như nguyên lý của mọi
biến dịch. Do đó động cơ bất bị động được dùng thay thế cho hiện thể và
trở thành nguyên lý vĩnh cửu cho mọi biến dịch. Chúng ta rất nên chú ý
về sự cách bậc giữa hai quan niệm của Aristote và của thánh Toma về tác
động biến dịch. Tác động biến dịch là làm cho một sự vật đang ở năng thể
trở thành hiện thể. Cũng một câu này, ở trong hai hệ thống triết học
của Aristote và thánh Toma có hai ý nghĩa khác nhau một trời một vực.
Aristote
chỉ quan tâm đến vấn đề chuyển dịch của vũ trụ nên ông đã dùng hai khái
niệm tiềm thể và hiện thể để cắt nghĩa sự biến dịch ấy. Theo ông chỉ có
cách duy nhất giải thích sự biến dịch là phải kết luận có một động cơ
bất bị động ở hiện thể, không có chút chi tiểm thể, gọi là hiện thể
thuần túy, là nguyên lý của mọi biến dịch, hoạt động từ đời đời vì vũ
trụ đã ở thế tiềm thể thực thụ từ đời đời. Không có lúc nào mà không có
thế giới sự vật đang biến dịch. Vì lý do này Aristote phủ nhận có một
cuộc sáng tạo trong thời gian. Các triết gia Hy Lạp không hề có ý tưởng
về sáng tạo, họ nghĩ rằng vũ trụ đã có từ đời đời. Ý tưởng về sự sáng
tạo được đưa vào suy tư triết học và thần học là do mạc khải Do Thái –
Kitô giáo. Như vậy động cơ bất bị động đối với Aristote có thể nói chỉ
là nguyên lý vô thức của biến dịch và là mô thể nội tại của thế giới.
Hay nói theo Etienne Gilson, động cơ bất bị động của Aristote mặc dù là
hiện thể thuần túy nhưng chỉ là hiện thể thuần túy trong trật tự tri
thức chứ không phải là trong trật tự hiện hữu vì vũ trụ của Aristote
không phải là vũ trụ được sáng tạo. Thượng Đế của Aristote không phải là
Đấng hiện hữu nên không thể ban hiện hữu, thậm chí cũng không biết mình
là đấng hiện hữu (God and philosophy, p.66).
Trái
lại, mối quan tâm của thánh Toma là vần đề hiện hữu của vũ trụ. Có sự
khác biết rất lớn giữa hai mối quan tâm và do đó cũng có sự khác biệt
rất lớn về quan niệm động cơ bất bị động của Aristote và đệ nhất động cơ
của thánh Toma. Vì tác động biến dịch của Aristote chỉ đưa một vật ở
năng thể thực thụ sang hiện thể, nên ta hiểu vì sao trong hệ thống triết
học Aristote không có quan niệm về sáng tạo. Còn nơi tư tượng thánh
Toma người ta không thể nói tới năng thể thực thụ bởi vì trước khi sáng
tạo, vạn vật không ở thể năng thể theo nghĩa của Aristote nhưng là ở thể
hư vô. Đó là ý nghĩa từ sáng tạo của thánh Toma.
Như
thế đã rõ, thánh Toma dựa trên biến dịch để chứng minh rằng, có một đệ
nhất cơ động, nhưng đệ nhất động cơ của ngài chẳng những đã chuyển vạn
vật từ thể năng thể sang hiện thể, mà còn là nguyên nhân của hữu thể vạn
vật nữa. Sở dĩ phải đào sâu quan niệm tác động biến dịch của thánh Toma
vì nếu quan niệm triết học của ngài như chính “thuyết Aristote sửa chữa
đi chút ít” theo kiểu nói của Bergson, thì chúng ta không thể nào đạt
tới Thượng Đế sáng tạo được.
II. ĐƯỜNG THỨ HAI DỰA TRÊN NGUYÊN NHÂN TÁC THÀNH
Con đường này khác với con đường thứ nhất ở chỗ không nghiệm xét chính tác động biến dịch nhưng xét đến thành quả của biến dịch.
Chúng
ta nghiệm thấy trong thế giới thiên nhiên có mối tương quan nhân quả.
Mọi vật hiện hữu hay mọi biến cố xảy ra đều có một nguyên nhân. Trong đó
nhiều nguyên nhân chúng ta không thể giải thích thấu đáo được. Nguyên
nhân có nhiều dạng thức. Ở đây chúng ta nói về nguyên nhân tác thành.
Một nguyên nhân trách nhiệm về hành động của mình khi tác động lên một
sự vật khác hay làm cho một hữu thể bắt đầu hiện hữu. Đứa bé vừa sinh
ra. Trước đó bé chưa hiện hữu và ai cũng biết bé không thể tự mình hiện
hữu. Dĩ nhiên ai cũng khẳng định cha mẹ bé là nguyên nhân hiện hữu của
bé. Khẳng định này hiển nhiên là đúng nhưng chưa phải là giải đáp tận
căn cho sự hiện hữu của bé. Vì chính cha mẹ bé đã có một thời chưa có
mặt trên thế giới. Vậy phải đi ngược lên tới tổ tiên của bé để tìm câu
trả lời, nhưng phải đi ngược lên tới bao xa mới có câu trả lời thỏa
đáng? Có ngược lên đến vô tận cũng vô ích vì một chuỗi vô cùng những
nguyên nhân trong chuỗi nguyên nhân cha mẹ tổ tiên vẫn là những nguyên
nhân trung gian nên không thể tìm thấy lý do hiện hữu ở nơi đó. Vì vậy
nhất thiết phải truy nhận có một nguyên nhân đệ nhất đứng ngoài chuỗi
nguyên nhân trung gia hay lệ thuộc kia và trách nhiệm hoàn toàn về sự
hiện hữu của chuỗi nguyên nhân trung gian hay lệ thuộc trong vũ trụ,
đồng thời nguyên nhân đệ nhất đó không bị lệ thuộc vào bất cứ nguyên
nhân nào khác.
Cần
quan niệm cho đúng nguyên nhân đệ nhất và nguyên nhân đệ nhị hay nguyên
nhân trung gian mà ta quan sát được bằng kinh nghiệm. Nguyên nhân đệ
nhị hay nguyên nhân lệ thuộc luôn luôn có trước các hậu quả của chúng
theo diễn tiến thời gian. Còn nguyên nhân đệ nhất lại ở ngoài thời gian.
Nguyên nhân đệ nhất không đứng ở đầu chuỗi móc xích nhân quả. Thượng Đế
không có trong móc xích đầu tiên của chuỗi móc xích cùng loại với thế
giới này. Nếu thiếu một nguyên nhân đệ nhất như thế, thế giới sẽ trở
thành không hiểu được, bởi vì không có vật nào trong thế giới khả nghiệm
này có thể tìm được nơi chính mình nền tảng cũng như lý do hiện hữu của
mình. Vậy hạn từ nguyên nhân đệ nhất không được hiểu theo nghĩa mà khoa
học vẫn hiểu.
Bản văn của thánh Toma.
“Đường
thứ hai khởi đi từ bản chất của nguyên nhân tác thành: trong thế giới
sự vật khả giác, ta nhận thấy có một trật tự giữa các nguyên nhân tác
thành. Được biết, không có trường hợp nào trong đó có một vật được coi
là nguyên nhân tác thành của chính mình. Nếu có, vật đó phải có trước
mình, là điều phi lý, không thể chấp nhận được.
Trong
trật tự các nguyên nhân tác thành, nguyên nhân đệ nhất sinh ra một hay
nhiều nguyên nhân trung gian, nguyên nhân trung gian sinh ra nguyên nhân
sau cùng. Nếu không có nguyên nhân đệ nhất, làm sao có nguyên nhân
trung gian và nguyên nhân sau cùng. Nên không thể lý luận mãi như thế
được, vì lý luận như thế sẽ không có nguyên nhân tác thành đệ nhất thì
cũng chẳng có nguyên nhân trung gian và hiệu quả sau cùng. Đó là điều
sai lầm.
Bởi đấy, cần có nguyên nhân tác thành đệ nhất được mọi người gọi là Thượng Đế”.
Ai
cũng nhận thấy hai chứng cứ thứ nhất và thứ hai giống nhau như đã nói
trên đây. Thành thử không thiếu học giả cho rằng chỉ có một con đường
duy nhất và đường đó có 5 phần. Nghĩ như thế là không tôn trọng tư tưởng
thánh Toma cho đủ, vì ngài đã viết rõ là quiquae viae (5 con đường).
Tuy nhiên không ai chối cãi được rằng năm con đường đó xây dựng cùng một
kiểu.
Thánh
Toma xây dựng luận chứng của ngài trên hai nguyên tắc chắc chắn: 1)
Không sự vật nào có thể tự làm nguyên nhân cho chính mình vì điều đó mâu
thuẫn quá: Cho rằng một sự vật có thể làm nguyên nhân cho chính mình
tức là nhận rằng nó hiện hữu (với tư cách là nguyên nhân) trước khi nó
thực sự hiện hữu (với tư cách là hiệu quả). Vậy mỗi hữu thể phải có
nguyên nhân biệt khỏi nó và hiện hữu trước nó. 2) Không thể ngược lên
đến vô cùng trong trật tự những hữu thể vừa làm nguyên nhân cho cái khác
vừa cần một nguyên nhân cho mình. Nói cách khác ta không thể ngược dòng
thời gian mãi, vì như thế vẫn không giải quyết được vấn đề nền tảng của
hiện hữu, vì ngược dòng thời gian ta chỉ gặp những nguyên nhân đệ nhị
hay nguyên nhân trung gian là những nguyên nhân không tự mình mà có,
chúng hiện hữu do một nguyên nhân ở ngoài chúng. Phải có một nguyên nhân
đệ nhất ban hiện hữu cho chúng. Đó là ý nghĩa của tác động sáng tạo. Đó
cũng là trọng tâm vấn đề siêu hình học về hiện hữu của thánh Toma. Nếu
không có nguyên nhân tác thành đệ nhất thì vẫn không thể giải thích được
sự kiện những hữu thể trong vũ trụ là những hữu thể cần có nguyên nhân.
Có
ý kiến cho rằng nếu toàn bộ vũ trụ là một hệ thống đóng kín thì toàn
bộ các yếu tố vũ trụ đều là nguyên nhân cho nhau trong một hệ thống vòng
tròn bất tận, nên không cần một nguyên nhân đệ nhất. Giả thiết này có
thể đúng xét về phương diện nó cho biết nguyên nhân tính được chuyển đi
như thế nào, còn chính nguyên nhân tính do đâu mà có, đấy mới là vấn đề.
Nếu cho rằng nó phát sinh từ vũ trụ xét như một toàn thể thì vũ trụ đó
cũng chỉ hiện hữu nhờ các thành phần cấu tạo mà thôi. Các thành phần cấu
tạo đều là những nguyên nhân lệ thuộc vừa làm nguyên nhân cho cái khác
vừa cần nguyên nhân cho mình.
Lại
nữa, trước đây I. Kant đã phủ nhận chứng cứ hữu thể học, thì nay ông
cũng phủ nhận chứng cứ dựa trên nguyên lý nhân quả mà nguyên nhân tác
thành nằm trong nguyên lý này. Đối với ông, đó cũng chỉ là một trong
những nguyên lý của lý trí thuần túy, theo đó lý tính không thể đạt được
những vấn đề siêu hình, nên nguyên lý này không có giá trị khi áp dụng
cho Thượng Đế, là một thực tại nằm ngoài kinh nghiệm khả giác. Ông cho
rằng, những nguyên tắc của trí năng con người chỉ có hiệu lực cho công
dụng thực nghiệm (usage emperique) không có hiệu lực siêu nghiệm (usage
transcendent) cho nên đi từ những nghiệm xét về vũ trụ tới chỗ quyết có
một nguyên nhân siêu việt của vũ trụ là đi quá trớn. Sở dĩ triết học
Kant và những học thuyết chịu ảnh hưởng của ông sau này đã đi đến khẳng
định như vậy vì bị thôi miên bởi lý tưởng khoa vật lý Newton. Thời đó
phần lớn các triết gia xem vật lý học Newton như là một khuôn hình các
nguyên tắc tuyệt đối đúng. Tuy nhiên cuối thế kỷ 19, xảy ra cuộc khủng
hoảng trên qui mô lớn, khiến người ta đặt lại nhiền vấn đề xưa kia được
coi là nền tảng vững chắc bất khả chuyển lay. Sự xuất hiện khoa vật lý
hạt nhân hay lượng tử làm nguyên lý tất định lung lay. Thuyết tương đối
xuất hiện đưa ra những quan niệm mới về không gian và thời gian. Khoa
luân lý hiện đại cũng nhận nhiều giá trị khác nhau, nguyên lý triệt tam
của luận lý học học cổ điển không còn bao quát được mọi lãnh vực. Triết
học hiện đại cũng không còn thu giảm con đường vào trong trí năng của
mình. Một nhà triết học hiện sinh không ngần ngại tuyên bố: hiện dinh
đích thực là hiện sinh vươn tới siêu việt.
III. ĐƯỜNG THỨ BA DỰA TRÊN TẤT HỮU
Đường
thứ ba dẫn đến khẳng định sự hiện hữu của Thượng Đế phát sinh từ nhận
thức về tính bất tất của các sự vật trong vũ trụ. Một cách nôm na, bất
tất nghĩa là có thể ra khác (can be other). Tất yếu, không thể khác được
(can not be otherwise). Một vật bất tất là một vật có cũng được và
không cũng được, một vật có sinh có diệt, có sinh tức là trước chưa hiện
hữu, nếu có hiện hữu thì không phải do mình mà cần phải có nguyên nhân
cho hữu thể mình. Thường người ta ít bén nhạy về tính bất tất (mỏng dòn,
giới hạn) nơi các sự vật, chỉ khi người ta phải đối diện với cái chết
của một người thân hay sự sụp đổ của một cơ ngơi, người ta mới ý thức rõ
ràng về tính bất tất của các sự vật quanh ta.
Có
hai loại hữu thể tất yếu hay tất hữu. Hữu thể tất hữu tự thân hay tự
thể (per se), tuyệt đối là hữu thể tự mình có đủ lý do hiện hữu, không
phải nhờ hữu thể khác làm nguyên nhân cho mình, là hữu thể luôn luôn
hiện hữu, nghĩa là không có bắt đầu hiện hữu cũng không bao giờ thôi
hiện hữu luôn luôn ở hiện thể hiện hữu (in actu existentiae). Hữu thể
tất yếu giả định hay hữu thể nhận tất yếu nơi hữu thể khác. Tất yếu
không phải là ý niệm bất tương hợp với trật tự tạo thành (Summa Contra
Gentiles II c.30). Thiên thần thụ tạo linh thiêng tất yếu bất hoại
(incorruptible) bất biến (immobile) do quyền năng của Thiên Chúa (Summa
Contra Gentiles III c.94).
Dưới đây là đoạn trích văn bản thánh Toma:
“Đường
thứ ba dựa vào vật bất tất và vật tất yếu. Ta thấy trong thiên nhiên có
những vật có hay không cũng được vì người ta thấy chúng xuất hiện rồi
mất đi, nghĩa là chúng có thể có và cũng có thể không. Điều đó cho thấy
không nhất thiết mọi vật bất tất luôn luôn hiện hữu. Vì cái có thể có,
thì cũng có lúc chẳng có. Nếu tất cả mọi vật đều bất tất thì đã có lúc
không có vật nào cả. Nếu giả thiết đúng như thế thì ngay lúc này, chẳng
có vật nào hết, bởi vì vật gì vốn không có, nó chỉ bắt đầu có, nhờ vào
vật khác đã có sẵn. Giả sử trước đây không có vật nào, thì bây giờ làm
gì có vật nào bắt đầu hiện hữu được. Như vậy hiện thời trên thế giớn
chẳng có một vật gì cả. Nhưng thực tế cho thấy ngược hẳn với điều đó. Do
đó không phải tất cả hữu thể đều bất tất nhưng phải có một vật tất yếu.
Vật tất yếu có hai loại: hoặc nhận tính tất yếu nơi vật khác hoặc tự
mình là tất yếu. Và ta không thể đi ngược đến vô cùng trong chuỗi những
vật tất yếu có nguyên nhân tất yếu nơi vật khác, cũng như không thể đi
ngược tới vô tận trong chuỗi các nguyên nhân tác thành (trung gian) như
đã nói ở chứng cứ thứ hai. Vậy phải có một hữu thể tất yếu tự tại. Chính
hữu thể ấy là nguyên nhân của tính tất yếu nơi các hữu thể tất yếu
khác. Mọi người gọi là Thượng Đế”.
Etienne
Gilson cho thấy thánh Toma đã hoàn toàn theo cách chứng minh của nhà
hiền triết Do Thái Moses Maimonides (1135) để nêu lên sự kiện hữu thể
bất tất và tất yếu. Thánh Toma cũng làm như Maimonides là đặt ra ba giả
thuyết: 1) Không vật nào sinh ra và diệt đi hết. Giả thuyết này bị kinh
nghiệm thường ngày bác bỏ ngay , vì ai cũng thấy có những vật sinh và
diệt trong vũ trụ. 2) Tất cả vạn vật đều sinh ra và diệt (không có hữu
thể tất yếu nào cả). Giả thuyết này cũng không thể nhận được, vì nếu tất
cả đều sinh và diệt tức thị tất cả đều bất tất, mà bất tất thì đã có
lúc chúng không có và đã không có thì chúng không thể tự chúng bắt đầu
có và như vậy vẫn không có hữu thể nào hết. Kinh nghiệm cho hay: có
những hữu thể trong vũ trụ. Cho nên giả thuyết thứ hai này cũng không
chấp nhận được. 3) Có những vật bất tất có sinh có diệt và cũng có hữu
thể tất yếu không sinh và không diệt. Thực ra đây không còn phải là giả
thuyết nữa nhưng là kết luận nhất thiết phải được chấp nhận sau khi
chúng ta thấy không thể chấp nhận hai giả thuyết trên kia.
Tóm
lại, những sự vật chúng ta quan sát trong vũ trụ thảy đều sinh và diệt,
đều bất tất. Và nếu có lùi lại tới vô tận trong chuỗi những vật bất tất
đó cũng chẳng giải quyết được gì. Vì một vũ trụ gồm toàn những vật bất
tất, nghĩa là những vật cần phải có một nguyên nhân cho sự khởi đầu hiện
hữu của mình, mãi mãi vẫn là chuỗi bất tất, không thể tự hiện hữu được.
Vì tất cả đều bất tất nên đã có lúc vũ trụ này là hư vô hoàn toàn. Bởi
vì hư vô đó không thể tự sinh ra hữu thể. Vì giả thuyết đó vô lý, nên
chúng ta phải công nhận rằng ngoài những hữu thể bất tất ra còn có hữu
thể tất yếu. Đó là hữu thể chúng ta đang tìm kiếm và gọi Ngài là Thượng
Đế.
IV. ĐƯỜNG THỨ TƯ DỰA TRÊN CẤP HỮU THỂ
Qua
kinh nghiệm, ta thấy trong vũ trụ các sự vật có mức độ chân thiện mỹ
hơn kém nhau. Nói hơn kém là bao hàm cái tuyệt mức trong một loại nào
đó. Như khi nói về cái đẹp: A đẹp, B khá đẹp, C tuyệt đẹp là muốn qui
chiếu về cái đẹp tuyệt đối. Nghĩa là ABC không phải là chính cái đẹp,
nhưng chỉ dự phần hay phản ảnh phần nào cái đẹp tuyệt đối. Như thế khi
sự thiện hảo được thể hiện theo những mức độ khác nhau nơi nhiều sự vật
thì không sự vật nào tự bản chất giải thích được sự hiện hữu của sự
thiện hảo đó. Nó phải qui chiếu về nguồn mạch của nó, một sự toàn hảo tự
tại.
Dưới đây là trích bản văn thánh Toma.
“Đường
thứ tư dựa vào mức độ hoàn hảo nơi sự vật, vì tương quan khác nhau với
cái tuyệt đối, nên các vật có mức độ tốt đẹp, chân thật và cao quí hơn
kém khác nhau. Thí dụ: Vật nóng hơn vì nó gần gũi hơn với vật nóng
nhất. Như vậy phải có điều gì tuyệt đối chân thật, tuyệt đối thiện hảo
và tuyệt đối cao quí, nghĩa là vật đó tuyệt đối hiện hữu: vì điều gì
tuyệt đối chân thật, cũng tuyệt đối hiện hữu (2 metap. 1. cap.1). Đồng
thời điều tuyệt đối trong giống là căn nguyên cho cả giống đó. Thí dụ:
trong các vật nóng có lửa nóng nhất nên lửa đốt nóng các sinh vật khác.
Bởi đấy cần có nguyên nhân cho mọi hữu thể, cho mọi phẩm tính. Đó là Thượng Đế vậy”.
Cần
lưu ý, thánh Toma coi lửa trong trạng thái tinh ròng (pure form) hay
lửa tinh ròng (pure fire) có cái nóng tuyệt đối. Còn lửa được xử lý
trong thực tế như lửa lò luyện kim… chỉ là lửa phát sinh (derivative
fire) nóng tương đối hơn kém.
Một
số học giả cho rằng chứng cứ thứ tư thuộc loại những luận chứng hữu thể
học nghĩa là đi từ một phẩm tính chuyển qua lãnh vực hữu thể quá vội
vã. Hơn nữa có người cho rằng chứng cứ này có lối đi của biện chứng pháp
Platon và dựa vào thuyết thông phần của ông ta nữa. Như trong cuốn “bữa
tiệc rượu” (the banquet), Platon viết: “Với cái đẹp (tuyệt đối) làm mục
tiêu, phải vươn cao không ngừng bằng cách lần theo như những nấc thang
từ một hình thể đẹp, đến hai hình thể đẹp, từ hai hình thể đến mọi hình
thể đẹp, rồi từ những hình thể đẹp đến những việc làm tốt đẹp, tiếp đến
tự những việc làm tốt đẹp đến những tri thức tốt đẹp, cho đến lúc tiến
thêm nữa, người ta đạt đến cái tri thức mà tôi đã nói, cái tri thức
không còn đối tượng nào khác ngoài cái đẹp tự thân”.
Thực
ra chứng chứ thứ tư trong tổng luận thần học, thánh Toma chỉ phác một
con đường khả dĩ đưa tới Thượng Đế. Trong cuốn De Potentia III,5, ngài
nói rõ hơn về vấn đề này. Nơi đó chúng ta nhận ra sự khác biệt này:
trong khi Platon muốn dừng lại ở đệ nhất của mỗi loại hữu thể, do đó có
nhiều đệ nhất khác nhau, thì thánh Toma đi tới sự nhận ra “cha của các
linh tượng”.
Như
thế thánh nhân tránh được sự kiện nhiều đệ nhất. Đàng khác, thánh nhân
không xây dựng chứng cứ của ngài trên ý tưởng chân thiện mỹ. Thực vậy,
ngài không chỉ lập luận: nếu có những cấp độ hoàn hảo khác nhau thì tất
phải có sự hoàn hảo tuyệt đối mà chúng tham dự vào. Nhưng thánh nhân còn
cho rằng sự hoàn hảo tuyệt đối là nguyên nhân của những sự hoàn hảo có
những mức độ khác nhau kia. Trên nền tảng siêu hình học hiện hữu đó, sự
thiện hảo tuyệt đối cũng là hữu thể tối cao và là nguyên nhân cho mọi
hữu thể có sự thiện hảo hơn kém, mà tự bản chất chúng không thể giải
thích được sự hiện hữu của mình nên đòi phải có nguyên nhân.
Nói
đúng ra, con đường thứ tư không thực sự xây dựng trên những cấp của
chân thiện mỹ như người ta thường nói, nhưng xây dựng trên những cấp hữu
thể: tự tính chất bất toàn của hữu thể nọ hay hữu thể kia trong vũ trụ,
con người có thể vươn tới hữu thể căn nguyên tối hậu toàn hảo là Thượng
Đế.
V. ĐƯỜNG THỨ NĂM DỰA TRÊN NGUYÊN NHÂN CỨU CÁNH
Nhìn
chung, chúng ta thấy thế giới có trật tự và định hướng. Và như ta đã
biết, trật tự và hướng đích tính là hoa trái của trí tuệ. Mọi tác nhân
hành động vì một mục đích. Tuy nhiên ảnh hưởng của mục đích có thể trực
tiếp hoặc gián tiếp tùy theo bản tính của tác nhân: nơi tác nhân có lý
trí, mục đích hiện diện như một ý hướng trực tiếp tác động đến tác nhân
vì được tác nhân nhận thức như một sự thiện hay giá trị đáng ước mong,
đồng thời thu hút và thúc đẩy tác nhân hành động. Theo nghĩa này, mục
đích mới thực sự là nguyên nhân. Còn nơi tác nhân vô tri, ảnh hưởng của
mục đích chỉ là gián tiếp, vì chúng không lựa chọn mục đích nhưng được
áp đặt bởi chính sự cấu tạo của bản tính chúng. Nói cách khác là được
ghi khắc vào ngay trong sự cấu tạo tự nhiên (bản năng làm tổ của tò
vò…).
Dưới đây là trích dịch đoạn văn thánh Toma:
“Đường
thứ năm dựa vào việc điều hành vạn vật. Ta thấy dù vật vô tri cũng
hướng về một mục đích. Hầu như lúc nào hoạt động của chúng cũng hướng
tới chỗ tuyệt hảo. Như thế tất không do tình cờ nhưng phải do định
hướng. Vật vô tri chỉ có thể hướng về mục đích nhờ có một chủ thể hữu
tri vì như mũi tên phải nhờ xạ thủ bắn đi.
Bởi đấy cần có một đấng hữu tri điều khiển vạn vật về một mục đích. Chính Ngài là Thượng Đế”.
Đọc
nhan đề, chúng ta tưởng chứng cứ này sẽ bàn luận về việc điều hành vạn
vật, nhưng khi đọc bản văn trên đây, chúng ta chỉ thấy thánh Toma chú
trọng về cứu cánh của mỗi sự vật trong thiên nhiên mà thôi. Thực ra
nguyên nhân cứu cánh phải hiểu cả về hai nghĩa, vừa nghĩa là mỗi vật có
khuynh hướng tìm sự thiện hảo cho chính mình, nó vừa có nghĩa là vạn vật
đều qui về chí thiện, do đấy chung đúc nên một trật tự hoàn mỹ. Nghĩa
thứ hai được thánh Toma nói đến trong Summa Contra Gentiles (c.13, số
35) nới đó ngài đã theo tài liệu của thánh Joan Damasceno để suy luận về
trật tự vũ trụ, nên ngài không để ý nữa trong văn bản trên đây. Chính ý
nghĩa thứ hai này, vũ trụ học Big Bang ngày nay khi nghiên cứu tiến
trình hình thành vũ trụ phải công nhận rằng: vũ trụ được điều chỉnh một
cách hài hòa và chính xác như tồn tại một mục tiêu nhất định: “Vật lý
càng tiến bộ thì các hiện tượng mà người ta tin là hoàn toàn tách biệt
lại có thể thống nhất với nhau… Vũ trụ đang hướng về MỘT” (Mathieu
Ricard – Trịnh Xuân Thuận: cái vô hạn trong lòng bàn tay, p.78-79).
Dựa
trên nguyên lý “mọi tác nhân đều hành động hướng về mục đích của nó”
chứng cứ có thể đi cả con đường “những vật vô tri” cả con đường “những
vật có lý trí”. Thánh Toma chỉ cần lấy chứng cứ nơi những vật vô tri,
những vật này hành động như thể có tri thức về cứu cánh của chúng, vì ta
thấy chúng hành động luôn theo một đường lối và đường lối này dẩn chúng
đạt tới cứu cánh của chúng. Bởi vì ta biết rõ chúng vô tri cho nên ta
phải kết luận rằng có một cái chi có tri thức hướng dẫn chúng tới cứu
cánh của chúng.
Tuy
nhiên khi thuyết tiến hóa của Charles Darwin được chấp nhận rộng rãi,
người ta lý giải trật tự vũ trụ thông qua cách tham chiếu các qui luật
đấu tranh sinh tồn và chọn lọc tự nhiên. Họ cho rằng thế giới như một cơ
thể trên đà tiến hóa, sự thích ứng của cơ thể ấy với môi trường là bằng
chứng của chủ đích trong thiên nhiên. Họ biện luận rằng nếu chủ đích
tồn tại trong thế giới là bằng chứng cho sự hiện hữu của một trí tuệ tối
thượng là Thượng Đế thì làm sao giải thích được cái ác và đau khổ… Vì
tất cả những hiện tượng ấy rõ ràng không phải là chủ đích của Thượng Đế
toàn thiện, toàn thức. Chúc ta đã bàn đến trong tiết về sự dữ.
TỔNG KẾT
Trên
đây chúng ta đã đưa ra vài nhận xét về giá trị của mỗi chứng cứ cũng
như nhận xét của một số học giả cho rằng ngũ đạo của thánh Toma cần được
bổ túc thêm bằng con đường gọi là con đường siên hình học. Tuy nhiên
Etienne Gilson lại cho rằng Ngũ đạo của thánh Toma thực sự ngấm ngầm dựa
trên nền tảng siêu hình học rồi. Muốn khai thác được giá trị siêu hình
học của ngũ đạo, chúng tao phải nhận định về sự khác biệt gần như vô
cùng giữa vũ trụ quan của Aristote và vũ trụ quang của thánh Toma. Trong
vũ trụ của Aristote là vũ trụ không ai sáng tạo nên và là vũ trụ hằng
hữu không cần đến Đấng sáng tạo. Trái lại khi thánh Toma định nghĩa biến
dịch là mang một năng thể sang hiện thể, ngài đã ngấm ngầm nghĩ đến sự
sáng tạo và nguyên nhân sáng tạo mà trong câu kết của mỗi con đường,
ngài gọi là Thượng Đế. Theo ngài, hiện hữu của vạn vật hoàn toàn tùy
thuộc vào Thượng Đế, do đó ngài đã viết một câu có tính quyết định này
“Now every creature may be compared to God, as the air is to the sun
which enlightens it” (S.T. Ia, q.104, a.1). Vạn vật đối với Thượng Đế
cũng như không trung đối với mặt trời chiếu sáng, nghĩa là vạn vật lệ
thuộc một cách tuyệt đối vào Thượng Đế và chẳng những tùy thuộc vào Ngài
để chúng có thể hiện hữu mà còn lệ thuộc vào Ngài trong sự bảo tồn của
chúng nữa. Sự tùy thuộc này thuộc lãnh vực hữu thể học, nghĩa là không
có Thượng Đế thì không sao hiểu được sự hiện hữu của chúng. Vì thế thánh
Toma đã ví hiện hữu của vạn vật như không trung đối với ánh sáng mặt
trời. Hễ mặt trời giãi ánh sáng vào thì không trung sáng lên và hễ mặt
trời rút ánh sáng của nó đi thì không trung rơi vào tăm tối. Do đó hễ
Thượng Đế ban hiện hữu cho vạn vật thì chúng hiện hữu và hễ Ngài rút tay
lại thì mọi vật liền rơi vào hư vô.
Tóm
lại, muốn đạt đến nguồn mạch của chứng sứ siêu hình học, cần thiết phải
nhìn vào bản chất của tác động sáng tạo bởi vì hiện hữu của vạn vật đều
tuyệt đối lệ thuộc vào tác động đó. Với điều kiện đó, chứng cứ của
thánh Toma mới dẫn chúng ta tới Thượng Đế thực hữu, chứ không chỉ dẫn
đến động cơ đệ nhất của Aristote.
Đàng
khác, ngũ đạo của Thánh Toma không chỉ đơn thuần là những luận chứng
mang tính cách thiết kế, nếu không, người ta có thể suy diễn Thiên Chúa
của Toma chỉ là Thiên Chúa của “tự nhiên thần thuyết” (Deism). Tuy nhiên
người ta khám phá ra trong con đường 5, thánh Toma không chỉ bận tâm
giải thích phương cách các tập hợp phức tạp gồm các thành phần thể hiện
chức năng hướng đích và chỉ giới hạn luận chứng vào các vật vô tri, rập
theo khuôn mẫu thiết kế đơn thuần. Trái lại, Ngài đã nhấn mạnh một thứ
trật tự, hoa trái của một trí tuệ thực sự hướng dẫn như một sự quan
phòng, không chỉ sắp xếp các vật vô tri vào một trật tự hài hòa của
riêng chúng nhưng cùng với các loài khác đem lại sự thiện hảo cho tất cả
thụ tạo vô tri hay hữu tri. Thánh Toma không đối lập thiết kế với quan
phòng vì quan phòng có thể bao hàm thiết kế nhưng không ngược lại.
Và
trong con đường thứ 2, ý niệm về những nguyên nhân tác thành không chỉ
nhằm phát sinh các hiệu quả nhưng còn giải thích sự thiện hảo được bố
trí cách khéo léo trong chính những nguyên nhân ấy nữa. Sức nóng tự bản
chất là gây hư hại nhưng trong vũ trụ, người ta còn nhận thấy sức nóng
trở nên hữu ích cho sự sống các sinh vật, phát sinh từ một sự hài hòa
bền vững (hệ thống mặt trời cùng với bầu khí quyển…) nói nên một sự quan
tâm của chuỗi những nguyên nhân đệ nhị lệ thuộc cho tới nguyên nhân
cuối cùng. Điều đó diễn tả sự quan phòng của Thiên Chúa. Một sự thiết kế
đơn thuần không thể có sự quan tâm tinh tế như vậy được.


